Ý Nghĩa Tên Pháp Danh Của Bạn Là Gì ? Quy Y Và Tên Pháp Danh

Ý nghĩa tên pháp danh của bạn là gì? Một người sau khi quy y Tam bảo sẽ chính thức trở thành người phật tử, theo đó sẽ có một pháp danh cho riêng mình do thầy bổn sư 5 giới truyền trao

*

 

 

Pháp danh của người phật tử tại gia không có chữ Thích đi trước, mà chỉ có những chữ như Cư sĩ, Đạo hữu, Tín nữ, Phật tử…ở phía trước mà thôi. Ngoài ra tín đồ Phật giáo cũng được đặt pháp danh sau khi qua đời để xử dụng trong lúc cung hành tang lễ nếu như khi còn tại thế chưa quy y.

Đang xem: Tên pháp danh của bạn là gì

Một người sau khi quy y Tam bảo sẽ chính thức trở thành người phật tử, theo đó sẽ có một pháp danh cho riêng mình do thầy bổn sư 5 giới truyền trao

Ý nghĩa cấu trúc tên pháp danh của bạn là gì?

Pháp danh gồm hai (2) chữ: Chữ đầu chỉ sự liên hệ đến thế hệ trong môn phái theo bài kệ của Ngài Tổ môn phái đó. Chữ thứ hai là do vị Bổn Sư chọn lựa dựa trên ý nghĩa của tên người đệ tử (thế danh) để tạo thành một chữ kép mang ý nghĩa hay, đẹp và có tính khuyến tu. Ví dụ: Người đệ tử tên Mỹ, quy y với vị Bổn Sư có Pháp danh chữ trước là TÂM ( thượng Tâm) sẽ có Pháp danh chữ trước là Nguyên; chữ sau có thể là Mãn. Tức là Nguyên Mãn: chữ Nguyên theo thứ tự thế hệ trong bài kệ của Ngài Tổ Liễu Quán, còn chữ Mãn là theo tên của người đệ tử là Mỹ, tạo thành một chữ kép có nghĩa tu hành được tốt đẹp (Mỹ Mãn). Đôi khi tên người đệ tử đã mang sẵn chữ có ý nghĩa đạo và ý nghĩa phù hợp với chữ trong bài kệ, vị Bổn sư để nguyên và không cần thay đổi, hoặc tên không thể tìm được chữ ghép thì có thể lấy chữ trong tên của các vị La Hán, Bồ Tát v.v… để tạo thành Pháp danh. Các Ngài bổn Sư trước đây thường lấy chữ trong cuốn Kim Quang Minh Tam Tự để đặt pháp danh cho đệ tử.

Phật giáo Việt Nam hiện nay đều xuất từ Thiền Tông và đa số thuộc dòng Tào Động (miền Bắc), Lâm Tế (miền Trung và miền Nam). Các Long vị của các Ngài Tổ đều ghi Lâm Tế, nhưng pháp tu lại kiêm cả Tịnh và Mật Tông. Ví dụ, ở Huế hiện ít nhất cũng đang truyền thừa theo ba (3) bài kệ của từng vị Tổ môn phái xuất kệ nhưng đều thuộc dòng Lâm Tế.

Một số các tên pháp danh phổ biến

Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn: Pháp danh là tên đạo lý, phàm người được thế độ làm tăng chẳng còn dùng tên họ theo đời mà phải lấy tên theo đạo do vị tôn sư đặt cho mình. Người thọ tam quy, ngũ giới, tu tại gia cũng được mang pháp danh, cũng kêu là pháp hiệu.

Vào năm 1973, chúng tôi được tiếp kiến vị cao tăng tại chùa Long Thiên Tự, xóm Bến Đò, tỉnh Biên Hòa. Ngài đã giải thích pháp danh như sau: Muốn thành Phật tử, phải quy y tam bảo, thọ ngũ giới. Vị bổn sư truyền giới sẽ đặt cho người đó một pháp danh, dựa theo bài kệ được truyền trong môn phái của vị bổn sư ấy. Vị cao tăng nói trên thuộc Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Lục Hòa Tăng, môn phái Lâm Tế, có tổ đình Long Thiên Tự ở Biên Hòa, đã đọc cho chúng tôi bài kệ sau đây để dùng trong việc đặt pháp danh cho các đệ tử:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên

Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Nguyên

Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Thổ

Chiếu Thế Sơn Đăng Vạn Cổ Truyền.

Mỗi vị tổ sẽ lần lượt lấy một chữ trong bài kệ trên làm chữ đứng đầu của pháp danh. Chữ đứng sau, vị bổn sư truyền giới tự chọn, nhưng lấy chữ có nghĩa gần giống với tên riêng. Thượng Tọa Thích Nguyên Thanh, trụ trì tại xã Tân Sơn Hòa Gia Định, thuộc môn phái Lâm Tế, đã đặt pháp danh cho một đệ tử của mình là Quảng Dũng. Thầy giải thích như sau: chữ Quảng lấy trong bài kệ của tổ đình, chữ Dũng được chọn vì Phật tử đó có tên là Hùng. Mục đích cách đặt pháp danh này là để phân biệt các đệ tử trong cùng một tổ đình, thuộc thế hệ khác nhau.

Ý nghĩa một số tên pháp danh đẹp

Một số tên pháp danh đẹp có ý nghĩa như sau:

1. Bài kệ của Ngài Thiền Sư Vạn Phong Thời Uỷ ( Môn phái Hải Đức, Huế. Môn phái Thập Tháp Di Đà, Bình Định, đều dùng bài kệ này:

Âm Hán Việt  Chữ Hán
Tổ Đạo Giới Định Tông

Phương Quảng Chứng Viên Thông

Hạnh Siêu Minh Thật Tế

Liễu Đạt Ngộ Chơn Không

Như Nhật Quang Thường Chiếu

Phổ Châu Lợi Ích Đồng

Tín Hương Sanh Phước Huệ

Tương Kế Chấn Từ Phong

祖導戒定宗

方廣證圓通

行超明寔際

了達悟真空

如日光常照

普周利人天

信香生福慧

相繼振慈風

Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái nầy đang ở khoảng chữ CHƠN.

Xem thêm: Hướng Dẫn Cách Đặt Tên Công Ty Thương Mại Tiếng Anh Là Gì, Công Ty Tnhh Thương Mại Và Dịch Vụ Công Việt Anh

 

2. Đa số các chùa khác thuộc môn phái Ngài Liễu Quán và dùng bài kệ sau:

Âm Hán Việt  Chữ Hán
Thật Tế Đại Đạo

Tánh Hải Thanh Trừng

Tâm Nguyên Quảng Nhuận

Đức Bổn Từ Phong

Giới Định Phước Huệ

Thể Dụng Viên Thông

Vĩnh Siêu Trí Quả

Mật Khế Thành Công

Truyền Trì Diệu Lý

Diễn Sướng Chánh Tông

Hạnh Giải Tương Ưng

Đạt Ngộ Chơn Không

實際大導

性海清澄

心源廣潤

德本慈風

戒定福慧

體用圓通

永超智果

密契成功

傳持妙里

演暢正宗

行解相應

達悟真空

Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái nầy đang ở chữ TRỪNG.

Hai dòng nầy phát triển rất mạnh ở miền Trung và miền Nam.

3. Ngoài ra ở Huế có môn phái chùa Quốc Ân do Tổ Nguyên Thiều lập lại dùng bài kệ của Ngài Đạo Mân đời thứ 31 như sau:

Âm Hán Việt  Chữ Hán
Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên

Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên

Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ

Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền

導本原成佛祖先

明如紅日麗中天

靈源廣潤慈風溥

照世真燈萬古懸

Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái nầy đang ở chữ LỆ.

Xem thêm: Ý Nghĩa Của 12 Trực Khai Là Gì ? Ý Nghĩa Ngày Trực Khai Trong Phong Thủy?

 

4. Riêng ở Quảng Nam Đà Nẳng có môn phái chùa Chúc Thánh thuộc Ngài Minh Hải Pháp Bảo đã biệt xuất bài kệ khác như sau:

Âm Hán Việt  Chữ Hán
Minh Thật Pháp Toàn Chương

Ấn Chơn Như Thị Đồng

Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu

Kỳ Quốc Tộ Địa Trường

Đắc Chánh Luật Vi Tuyên

Tổ Đạo Hạnh Giải Thông

Giác Hoa Bồ Đề Thọ

Sung Mãn Nhơn Thiên Trung

明寔法全章

印真如是同

祝聖壽天久

祈國祚地長

得正律為宣

祖導行解通

覺花菩提樹

充滿人天中

5. Ngoài ra còn những bài kệ khác như của Ngài Trí Thắng Bích Dung đời thứ 41 biệt xuất như sau:

Âm Hán Việt  Chữ Hán
Trí Huệ Thanh Tịnh

Đạo Đức Viên Minh

Chơn Như Tánh hải

Tịch Chiếu Phổ Thông

Tâm Nguyên Quảng Tục

Bổn Giác Xương Long

Năng Nhơn Thánh Quả

Thường Diễn Khoan Hoằng

Duy Truyền Pháp ấn

Chánh Ngộ Hội Dung

Không Trì Giới Hạnh

Vĩnh Kế Tổ Tông

   智慧清淨

道德圓明

真如性海

寂照普通

心源廣續

本覺昌隆

能仁聖果

常演寬宏

惟傳法印

正悟會容

空持戒行

永繼祖宗​​​​​

6. Ngài Minh Hành Tại Toại ở miền Bắc cũng biệt xuất bài kệ:

Âm Hán Việt  Chữ Hán
Minh Chơn Như bảo Hải

Kim Tường Phổ Chiếu Thông

Chí Đạo Thành Chánh Quả

Giác Ngộ Chứng Chơn Thường

  明真如寶海

金祥普照通

至導成正果

覺悟證真空

7. Ngài Tri Giáo Nhất Cú tông Tào Động cũng xuất bài kệ:

Âm Hán Việt  Chữ Hán
​​​​​​​Tịnh Trí Viên Thông Tông Từ Tánh

Khoan Giác Đạo Sanh Thị Chánh Tâm

Mật Hạnh Nhân Đức Xưng Lương Huệ

Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường

淨智圓通宗慈性

寬覺道生是正心

密行仁德稱良慧

燈普照宏法永長

Ba bài kệ sau cùng, người viết chưa đủ duyên để được gặp quý Thầy thuộc các môn phái đó nên không biết những chi tiết khác.

Ngoài ra trong thời gian gần đây, về phía nữ Phật tử cũng có một số được đặt pháp danh mang chữ Diệu, Minh như Phật giáo Nhật Bản, Trung Quốc v.v… Trên đây là những điều mà cá nhân người viết đã may mắn được sự chỉ dẫn và giải thích của Quý Thầy trong thời gian học hỏi và phụ giúp về nghi Lễ.Ngoài ra, trong nghi lễ pháp danh chỉ được dùng trong Sớ để tác bạch lên chư Phật và Bồ Tát mà thôi, còn các việc khác bậc xuất gia đã có Pháp tự, Pháp hiệu; tại gia có tự, hiệu…

Tham khảo thêm từ khóa:

đặt tên pháp danh
ý nghĩa tên pháp
tên pháp danh hay và ý nghĩa
các tên pháp danh ý nghĩa
tên pháp danh
tên pháp danh hay
ý nghĩa của tên pháp danh

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Hỏi Đáp

Related Articles

Trả lời

Back to top button