Phép Biện Chứng Là Gì ? Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng

*

*

*

*

*

GIỚI THIỆU ĐÀO TẠO – BỒI DƯỠNG Cao cấp lý luận chính trị Đại học Sau đại học Bồi dưỡng theo chức danh TUYỂN SINH KHOA HỌC HỢP TÁC QUỐC TẾ TIN TỨC – HOẠT ĐỘNG

Chuyên đề 3: Phép biện chứng duy vật – phương pháp luận của nhận thức khoa học và hoạt động cải tạo xã hội

Học viên hiểu rõ và vận dụng được phương pháp biện chứng duy vật vào nhận thức và giải quyết một vấn đề thực tiễn…

 

CHUYÊN ĐỀ 3: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – PHƯƠNG PHÁP LUẬN

CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG CẢI TẠO XÃ HỘI

(Số tiết giảng dạy : 10 tiết)

 

(i) Mục tiêu bài giảng:

– Tính tư tưởng: Củng cố niềm tin khoa học của cán bộ, đảng viên vào tính đúng đắn của phương pháp biện chứng duy vật.

Đang xem: Phép biện chứng là gì

– Tính khoa học: Chỉ ra cơ sở khoa học của phép biện chứng duy vật

– Kỹ năng: học viên hiểu rõ và vận dụng được phương pháp biện chứng duy vật vào nhận thức và giải quyết một vấn đề thực tiễn

– Thái độ: Học viên tin tưởng vào triết học Mác – Lênin thông qua khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của phương pháp biện chứng duy vật.

Sau khi học xong chuyên đề này, học viên:

– Hiểu một cách hệ thống, khái quát những vấn đề cơ bản của phép biện chứng duy vật: hai nguyên lý, ba quy luật cơ bản và sáu cặp phạm trù;

– Nhận thức rõ phép biện chứng duy vật là phương pháp luận khoa học trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn;

– Vận dụng được các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

(ii) Chuẩn bị:

– Vật chất:

+ Đảm bảo diện tích phòng học 1,5m2/người, thoáng mát về mùa hè; ấm, tránh gió mùa đông. Đủ bàn ghế đạt tiêu chuẩn cho giảng viên và học viên. Hệ thống trang âm đạt chuẩn (nếu có).

+ Máy chiếu, máy tính, bảng phấn, bảng ghim, bảng nhóm, bảng lật, giấy A3, A4, máy photocopy…

– Người học: Chuẩn bị đủ tài liệu theo hướng dẫn của chương trình học, phương tiện và dụng cụ học tập cần thiết.

– Địa điểm: Giảng đường, Thư viện

(iii) Nội dung:

 

I. KHÁI LƯỢC VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG (3 tiết)

Phương pháp giảng dạy: thuyết trình, phỏng vấn nhanh, hỏi – đáp, thảo luận nhóm, ghi ý kiến lên bảng, trực quan, nêu tình huống.

Đồ dùng dạy học: bảng, phấn, dụng cụ trực quan, máy chiếu.

1.1. Các khái niệm cơ bản (2 tiết)

1.1.1. Biện chứng

Sự tác động, thâm nhập, liên hệ, chuyển hóa lẫn nhâu của các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật hiện tượng, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

1.1.2. Biện chứng khách quan

Biện chứng của thế giới khách quan bên ngoài ý thức

1.1.3. Biện chứng chủ quan

Quá trình phản ánh thế giới khách quan bởi bộ óc người, của quá trình tư duy

1.1.4. Biện chứng duy vật

Biện chứng dựa trên nền tảng triết học duy vật

1.1.5. Biện chứng duy tâm

Biện chứng dựa trên nền tảng triết học duy tâm

1.1.6. Phương pháp

Phương pháp (methodos) là cách thức, thủ pháp để tiến hành công việc. Phương pháp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nhận thức và cải tạo thực tiễn.

1.1.6.1 Phương pháp siêu hình

1.1.6.2 Phương pháp biện chứng

1.1.7. Phương pháp luận

Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để tiến hành hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn.

1.1.8. Phương pháp luận khoa học

Phương pháp luận khoa học là lý luận về phương pháp dựa trên thế giới quan khoa học và xuất phát từ đối tượng nghiên cứu.

1.1.9. Phương pháp luận biện chứng duy vật

Đây là lý luận về phương pháp trên lập trường triết học duy vật biện chứng.

1.2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng (01 tiết)

1.2.1. PBCDV tự phát thời kỳ cổ đại

1.2.2. PBCDT trong triết học cổ Đức

1.2.3. PBCDV (Đặc điểm của PBCDV mác xít)

Ph.Ăngghen cho rằng phép biện chứng là môn học về những qui luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó với tính cách là khoa học về các mối liên hệ. Còn theo V.Lênin, phép biện chứng là khoa học về sự phát triển hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức con người phản ánh vật chất luôn luôn vận động.

Phép biện chứng duy vật mác xít đã đóng vai trò phương pháp luận khoa học để nhận thức và hoạt động thực tiễn.

II. VAI TRÒ PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN

2.1. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật (02 tiết)

2.1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

– Nội dung lý thuyết

Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới, theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng, có khác nhau đến thế nào đi chăng nữa, thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.

Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vật động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

– Phương pháp luận

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng chúng ta cần rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn.

Cần lưu ý rằng, mọi sự vật đều tồn tại trong không gian, thời gian nhất định và mang dấu ấn của không gian, thời gian đó. Do vậy, chúng ta cần có  quan điểm lịch sử – cụ thể khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra.

2.1.2. Nguyên lý về sự phát triển

– Nội dung lý thuyết

Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động.

– Phương pháp luận

Tự nhiên, xã hội và tư duy đều nằm trong quá trình vận động và phát triển không ngừng. Bản chất khách quan đó của quá trình đòi hỏi chúng ta, để phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có quan điểm phát triển.

Khái quát ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, tức là phương pháp biện chứng trong việc nhận thức và hoạt động thực tiễn.

2.2. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật (3 tiết)

2.2.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

– Nội dung lý thuyết

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật, nó chỉ ra nguồn gốc động lực của sự vận động, phát triển.

– Phương pháp luận

Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Ở đây, việc phát hiện ra những mâu thuẫn chủ yếu trong từng thời kỳ, trong phạm vi cả nước cũng như ở từng ngành, từng địa phương, từng cơ sở có ý nghĩa quyết định. Song, việc phát hiện ra các mâu thuẫn đó đòi hỏi, một là, phải nắm vững tình hình thực tế của sự vật; hai là, có tư duy khoa học cao; ba là, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú.

Như vậy, việc chú ý tới vấn đề mâu thuẫn trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện các nghị quyết là nhân tố bảo đảm sự thắng lợi của hoạt động lãnh đạo và quản lý.

2.2.2. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại

– Nội dung lý thuyết

Qui luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

– Phương pháp luận

Để có tri thức tương đối đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó.

Trong sự phát triển xã hội, phải biết kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hoá sang thay đổi mang tính cách mạng.

2.2.3. Quy luật phủ định của phủ định

– Nội dung lý thuyết

Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật. Phủ định biện chứng là quá trình khách quan, tự thân, là quá trình kế thừa cái tích cực đã đạt được từ cái cũ, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới cao hơn, tiến bộ hơn.

– Phương pháp luận

Trong hoạt động lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tin rằng cái mới nhất định sẽ thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất định sẽ chiến thắng cái lạc hậu. Trong sự phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn hiện nay của thời đại, chủ nghĩa xã hội với tính cách một chế độ xã hội là cái mới.

Trong công tác, chúng ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới, mặc dù lúc đầu nó còn yếu ớt, ít ỏi; phải ra sức bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ.

Mỗi quy luật của phép biện chứng đề cập một phương diện của quá trình vận động và phát triển. Trong thực tế, sự vận động và phát triển của bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sản phẩm tổng hợp của tất các quy luật biện chứng đã nêu. Do vậy, để có tác động tích cực tới sự phát triển trong hiện thực, chúng ta phải vận dụng tổng hợp cả ba quy luật đó.

2.3. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật (2 tiết)

Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng, cái chung, cái đơn nhất, tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực; nội dung và hình thức v.v… Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội.

Xem thêm: Stearin Là Gì – Stearin Dầu Thô

2.3.1. Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất

– Nội dung lý thuyết

Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhất định và cái đơn nhất. Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính lặp lại trong nhiều sự vật, nhiều hiện tượng. Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.

Giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất có mối liên hệ biện chứng với nhau.

– Phương pháp luận

Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng nên chúng ta chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng chứ không thể ở ngoài cái riêng.

Mặt khác, vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng như một bộ phận của cái riêng, bộ phận đó tác động qua lại với những mặt còn lại của cái riêng – những mặt không gia nhập vào cái chung – nên bất cứ cái chung nào cũng tồn tại trong cái riêng dưới dạng bị cải biến.

Vì cái riêng gắn bó chặt chẽ với cái chung, không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫn tới cái chung, cho nên để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thì chúng ta không thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung – những vấn đề lý luận liên quan với các vấn đề riêng đó.

Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể biến thành cái chung; ngược lại, cái chung có thể biến thành cái đơn nhất nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất biến thành cái chung, nếu cái đơn nhất đó là cái tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển, và ngược lại, biến cái chung thành cái đơn nhất, nếu sự tồn tại của cái chung đã lạc hậu, lỗi thời, cản trở sự phát triển.

2.3.2.Nguyên nhân và kết quả

– Nội dung lý thuyết

Nguyên nhân là sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định. Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

Giữa nguyên nhân, kết quả có mối liên hệ qua lại, qui định lẫn nhau.

– Phương pháp luận

– Vì mọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong, nên không có vấn đề hay không có nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy, mà chỉ có vấn đề các nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa được phát hiện mà thôi. – Vì mối liên hệ nhân quả mang tính tất yếu, nên ta có thể dựa vào mối liên hệ nhân quả để hành động.

2.3.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên

– Nội dung lý thuyết

Tất nhiên do mối liên hệ bản chất, do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác. Ngẫu nhiên do mối liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên ngoài quy định; có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện; có thể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất hiện thế khác.

Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau.

– Phương pháp luận

– Vì cái tất nhiên là cái trong những điều kiện nhất định dứt khoát phải xảy ra và phải xảy ra đúng như thế chứ không thể khác được, còn cái ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra, cũng có thể không xảy ra, có thể xảy ra như thế này, cũng có thể xảy ra như thế khác, nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cái ngẫu nhiên.

2.3.4. Nội dung và hình thức

– Nội dung lý thuyết

Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng. Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng; là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật, hiện tượng.

Giữa nội dung và hình thức có mối liên hệ qua lại, quy định lẫn nhau, trong đó nội dung giữ vai trò quyết định.

– Phương pháp luận

Nếu nội dung và hình thức luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau thì trong hoạt động thực tiễn cần chống lại mọi khuynh hướng tách rời nội dung với hình thức.

2.3.5. Bản chất và hiện tượng

– Nội dung lý thuyết

Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Hiện tượng là những biểu hiện bề ngoài, bên ngoài của sự vật.

Giữa bản chất và hiện tượng có mối liên hệ biện chứng với nhau. Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau.

– Phương pháp luận

– Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật, còn hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài, là cái không ổn định và biến đổi nhanh hơn so với bản chất.

2.3.6. Khả năng và hiện thực

– Nội dung lý thuyết

Khả năng là cái hiện chưa xảy ra, nhưng sẽ xảy ra khi có các điều kiện thích hợp. Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại thực sự.

Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật.

Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống bất biến, mà phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Mối quan hệ giữa các phạm trù của các ngành khoa học với các phạm trù của phép biện chứng duy vật là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng. Do vậy, khi nghiên cứu các phạm trù cần liên hệ chúng với nhau và với các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, bởi dù quan trọng đến mấy, chỉ riêng các phạm trù hoặc các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cũng không phản ánh đầy đủ các mối liên hệ của thế giới.

– Phương pháp luận

– Vì hiện thực là cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái hiện chưa có nên trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng. V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Chủ nghĩa Mác dựa vào hiện thực chứ không phải dựa vào “khả năng” để vạch ra đường lối chính trị của mình”1, “Chủ nghĩa Mác căn cứ vào những sự thật chứ không phải dựa vào những khả năng”2.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là có thể bỏ qua, xem thường khả năng. Vì khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật trong tương lai nên tuy không  dựa vào khả năng nhưng ta phải  tính đến các khả năng để có thể đề ra chủ trương, kế hoạch hành động cho sát đúng. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức nói chung, của nhận thức khoa học nói riêng là phải tìm ra, xác định cho được các khả năng phát triển của sự vật.

– Vì khả năng do sự vật gây nên và tồn tại trong sự vật nên chỉ có thể tìm ra các khả năng phát triển của sự vật ở ngay trong chính bản thân nó chứ không thể ở nơi nào khác.

– Vì khả năng nảy sinh vừa do sự tác động qua lại giữa các mặt khác nhau ở bên trong sự vật, vừa do sự tác động qua lại của sự vật với hoàn cảnh bên ngoài, cho nên trong nhận thức ta chỉ có thể căn cứ vào “tương quan lực lượng” giữa các mặt ở bên trong sự vật, vào sự phát triển của mâu thuẫn nội tại trong nó cũng như vào những điều kiện bên ngoài trong đó sự vật đang vận động và phát triển để dự kiến những khả năng phát triển của nó.

– Vì khả năng tồn tại trong chính bản thân sự vật, gắn bó chặt chẽ với sự vật nên nhiều khi rất dễ lầm lẫn khả năng với hiện thực. Để tránh sai lầm ấy, trong quá trình xác định khả năng, cần lưu ý đến dấu hiệu hết sức quan trọng phân biệt khả năng với hiện thực là: hiện thực là cái đã có, đã tới, còn khả năng là cái hiện chưa có, chưa tới.

– Do khả năng tồn tại ngay trong hiện thực, gắn bó hết sức chặt chẽ với hiện thực nên sẽ là sai lầm nếu tách rời cái nọ khỏi cái kia. Kết quả là trong hoạt động thực tiễn hoặc sẽ không nhìn thấy khả năng tiềm tàng trong sự vật, do đó không xác định được tương lai phát triển của nó; hoặc không thấy khả năng có thể biến thành hiện thực, do đó không tạo ra những điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự chuyển biến này hoặc ngăn cản nó tuỳ theo yêu cầu của mình.

Tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh đến mối liên hệ khăng khít trên đây giữa khả năng và hiện thực mà quên mất sự khác biệt về chất giữa chúng, lẫn lộn cái nọ với cái kia cũng sẽ mắc sai lầm. Sự lẫn lộn này, việc dựa lầm vào cái mới tồn tại dưới dạng khả năng chứ chưa phải là hiện thực trong hoạt động thực tiễn sẽ đưa lại những hậu quả hết sức tai hại, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “người mácxít chỉ có thể sử dụng, để làm căn cứ cho chính sách của mình, những sự thật được chứng minh rõ rệt và không thể chối cãi được”1.

– Sau khi đã xác định được khả năng phát triển của sự vật, nhiệm vụ của hoạt động thực tiễn là phải tiến hành lựa chọn và thực hiện khả năng.

C – Phương pháp giảng và đồ dùng dạy học

– Thuyết trình, nêu vấn đề, phỏng vấn, kể chuyện, gợi mở vấn đề, vấn đáp…

– Sách, giáo án, bảng, phấn, bút, powerpoint, các vật dụng khác…

D – Tài liệu phục vụ soạn giảng và học

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1987.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011.

3. Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Tập đề cương bài giảng các chuyên đề Triết học dành cho các học viện khu vực, Hà Nội, 2008.

4. PGS, TS. Vũ Trọng Dung – PGS, TS Lê Doãn Tá – PGS, TS. Lê Thị Thủy (Đồng Chủ biên): Giáo trình Triết học Mác – Lênin, 2 tập, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011.

Xem thêm: Nấu Cháo Xương Heo – Cách Nấu Cháo Sườn Tuyệt Đơn Giản Tại Nhà

5. PGS, TS. Lê Thị Thủy – TS. Nguyễn Thị Minh Tâm – TS. Vũ Văn Hậu (Đồng chủ biên): Hướng dẫn nghiên cứu chuyên đề triết học Mác – Lênin, dùng cho học viên Cao cấp lý luận Chính trị – Hành chính khu vực I, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011.

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Hỏi Đáp

Related Articles

Trả lời

Back to top button